Tạp chí Nhi khoa
Latest Publications


TOTAL DOCUMENTS

11
(FIVE YEARS 11)

H-INDEX

0
(FIVE YEARS 0)

Published By Vietnam Pediatric Association

1859-3860

2021 ◽  
Vol 14 (2) ◽  
Author(s):  
Trần Thanh Tú ◽  
Nguyễn Thị Vân Anh ◽  
Phùng Thị Bích Thủy ◽  
Bùi Thị Huyền ◽  
Nguyễn Thị Thanh Phúc ◽  
...  

Đặt vấn đề/ Mục tiêu: Viêm nhiễm virus hợp bào hô hấp RSV (Respiratory Syncytial virus) là một trong những nguyên nhân phổ biến gây bệnh đường hô hấp. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm bước đầu khảo sát tác dụng hỗ trợ điều trị của sản phẩm probiotic LiveSpo® Navax dạng nước chứa bào tử lợi khuẩn Bacillus thế hệ LS-III ở nồng độ cao trên đối tượng trẻ em bị bệnh đường hô hấp cấp do nhiễm RSV tại bệnh viện Nhi Trung ương. Phương pháp: Bước đầu đánh giá trên 30 bệnh nhân được chẩn đoán bị bệnh viêm tiểu phế quản do nhiễm RSV tham gia vào nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng mù. Bệnh nhân được chia ngẫu nhiên vào 2 nhóm (n =15/nhóm): nhóm sử dụng LiveSpo® Navax (nhóm Navax) và nhóm sử dụng nước muối sinh lý NaCl 0,9% (nhóm Chứng), được hướng dẫn xịt mũi với tần suất 3 lần/ngày trong 6 ngày liên tục, kết hợp với sử dụng thuốc điều trị thường quy tại bệnh viện. Bệnh nhân được tiến hành theo dõi các chỉ số lâm sàng (khò khè, khó thở, độ bão hòa oxy,...) trong suốt thời gian điều trị và được thực hiện các xét nghiệm như: (i) đo tải lượng RSV, nồng độ của B. subtilis và B. clausii ở ngày 0 và ngày 3 trong dịch tỵ hầu bằng phương pháp Real-time PCR. Kết quả: Nhóm Navax có thời gian khỏi các triệu chứng xuất tiết mũi, khó thở, ran rít, ran ẩm, rút lõm lồng ngực sớm hơn nhóm đối chứng khoảng 1 ngày. Sau 3 ngày điều trị, tải lượng RSV ở nhóm Navax ở dịch tỵ hầu của bệnh nhân giảm khoảng 300 lần, trong khi nhóm đối chứng chỉ giảm 15 lần, có liên quan tới sự có mặt của bào tử vi khuẩn B. subtilis và B. clausii ở dịch mũi bệnh nhân nhóm Navax mà vắng mặt ở nhóm đối chứng. 100% bệnh nhân sử dụng LiveSpo® Navax không có bất cứ dấu hiệu bất thường nào về rối loạn nhịp thở, mạch, kích ứng niêm mạc mũi, hay tiêu hóa. Kết luận: Đây là nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ở trẻ em đầu tiên trên thế giới về an toàn và tác dụng của probiotic bào tử lợi khuẩn Bacillus ở dạng xịt mũi. LiveSpo®Navax có tác dụng rút ngắn khoảng 1 ngày thời gian điều trị các triệu chứng điển hình của bệnh đường hô hấp do nhiễm RSV gây ra và làm giảm nồng độ virus hợp bào hô hấp RSV trong mũi của trẻ em hiệu quả hơn gấp 20 lần so với nước muối sinh lý. 



2021 ◽  
Vol 14 (2) ◽  
Author(s):  
Nguyễn Thị Quỳnh Nga ◽  
Cao Thị Mai Lê

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của trẻ sơ sinh mắc CMV bẩm sinh tại Bệnhviện Nhi Trung ương. Phương pháp: Nghiên cứu trên 30 trẻ sơ sinh được chẩn đoán nhiễm CMVbẩm sinh nhập viện tại Trung tâm Sơ sinh, Bệnh viện Nhi Trung ương từ 1/2018 đến 4/2021. Trẻđược đánh giá lâm sàng, cận lâm sàng về bệnh trong thời kỳ sơ sinh. Kết quả: Trẻ nhiễm CMV bẩmsinh có các đặc điểm: 50,0% sinh non; cân nặng lúc sinh trung bình là 2270±540gr; 63,3% cânnặng nhỏ hơn so với tuổi thai. Triệu chứng lâm sàng phổ biến của CMV bẩm sinh là vàng da, ganto, lách to gặp ở 43,3% số trẻ. Giảm tiểu cầu, tăng bilirubin trực tiếp và tăng transaminase có tỷ lệtương ứng là 63,3%; 56,7%; 52,4%.18/28 (64,3%) trẻ CMV bẩm sinh có ít nhất một bất thường vềhình ảnh thần kinh. 8/15 (53,3%) trẻ có mất hoặc giảm thính lực trong lần kiểm tra AABR đầu tiênvà 14,3% trẻ có bất thường về mắt. Tỷ lệ CMV-IgM dương tính là 88,5%. Kết luận: CMV bẩm sinhvẫn là một căn bệnh có tác động gây sinh non, nhẹ cân và các di chứng nặng nề khác trên trẻ sơsinh. Biểu hiện lâm sàng đa dạng và thường ảnh hưởng lên nhiều cơ quan hệ thống.



2021 ◽  
Vol 14 (2) ◽  
Author(s):  
Dương Thị Thụy ◽  
Nguyễn Thị Quỳnh Nga

Lồng ruột hiếm gặp ở trẻ sơ sinh, đặc biệt đối với trẻ sinh non cực kỳ hiếm gặp và thường bị nhầm lẫn với viêm ruột hoại tử hoặc xoắn ruột do có các triệu chứng lâm sàng tương đồng dẫn đến việc chẩn đoán bệnh thường chậm trễ. Chúng tôi báo cáo một trường hợp trẻ sơ sinh đủ tháng vào viện do bụng chướng, nôn ra máu và đi ngoài phân máu. Trước phẫu thuật trẻ được chẩn đoán xoắn ruột, sau khi mổ phát hiện nguyên nhân gây ra tình trạng trên do lồng ruột. Do đó, lồng ruột dù hiếm gặp nhưng cần được xem xét để chẩn đoán đối với những trường hợp trẻ sơ sinh có các triệu chứng tiêu hóa.



2021 ◽  
Vol 14 (2) ◽  
Author(s):  
Đinh Thị Phương Hòa
Keyword(s):  

Số trẻ sơ sinh tử vong trên toàn cầu đã giảm từ 2,7 triệu năm 2015 xuống 2,4 triệu năm 2020. Tuy nhiên, tốc độ giảm tử vong sơ sinh chậm và hiện nay chiếm tới 44% trong số tử vong trẻ dưới 5 tuổi. Vì thế, giảm tử vong sơ sinh được đưa vào trong mục tiêu 3 của mục tiêu phát triển bền vững hậu thiên niên kỷ (SDGs) với chỉ tiêu là chấm dứt các trường hợp tử vong sơ sinh do cácnguyên nhân có thể phòng tránh được vào năm 2030. Ở Việt Nam, cũng tương tự như thực trạng ở các nước thu nhập và trung bình khác, tử vong sơ sinh tuy có giảm trong những năm gần đây nhưng vẫn chậm so với những thành tựu nổi bật trong giảm tử vong trẻ em. Một số khó khăn chính trong cải thiện sức khoẻ sơ sinh là sự khác biệt giữa các vùng, miền; chất lượng chăm sóc chưa đáp ứng được nhu cầu và các chương trình chăm sóc sơ sinh chưa đến được hết những đối tượng cần nhất. Nhà nước cũng đã xác định được sự cần thiết phải giảm tử vong sơ sinh và hiện đang nỗ lực đẩy nhanh các hoạt động can thiệp hiệu quả hơn. Các can thiệp và phương pháp tiếp cận dựa trên bằng chứng có thể ngăn chặn được tử vong sơ sinh bao gồm chăm sóc bà mẹ trong thời gian mang thai, cuộc đẻ và sau đẻ. Gói can thiệp có hiệu quả nhất để có thể chấm dứt những tử vong do các nguyên nhân có thể phòng được là chăm sóc trong thời gian chuyển dạ, tại cuộc đẻ và trong vòng 1 tuần sau đẻ; chăm sóccác trẻ đẻ non/nhẹ cân và sơ sinh bệnh lý. Mở rộng độ bao phủ, cải thiện chất lượng chăm sóc theo tiếp cận chăm sóc liên tục, bảo đảm công bằng cho mọi bà mẹ và trẻ sơ sinh bao gồm cả vấn đề tài chính. Đó là những can thiệp chính mà mỗi quốc gia cần đầu tư mới có thể giảm tử vong sơ sinh thành công.



2021 ◽  
Vol 14 (2) ◽  
Author(s):  
Nguyễn Công Khanh
Keyword(s):  

Bệnh coronavirus 2019 (COVID-19) là bệnh nhiễm khuẩn hô hấp do virus corona mới SARS-CoV-2. Sau khi bệnh bùng phát đầu tiên ở Trung Quốc, bệnh lan rộng ra nhiều nước trên thế giới, kể cả Việt Nam. COVID-19 là bệnh nhiễm khuẩn mới nổi lên, gây nhiều thách thức lớn về kiểmsoát, chẩn đoán, chăm sóc, điều trị, nhất là trẻ em. Bài tổng quan này nhằm tổng hợp một sốvấn đề về dịch tễ, chẩn đoán và điều trị COVID-19 trẻ em qua y văn, các hướng dẫn, đồng thuậncủa một số tổ chức quốc tế. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, kể cả trẻ sơ sinh, và chỉ chiếm khoảng2% tổng số người mắc COVID-19. Phần lớn trẻ mắc COVID-19 không có triệu chứng và là thểnhẹ đến vừa, chỉ 2% cần phải hồi sức tích cực, tử vong rất thấp, điều này còn chưa có giải thíchđầy đủ. Nghi ngờ mắc COVID-19 khi có triệu chứng hô hấp với một yếu tố dịch tễ. Trẻ sơ sinh,nghi nhiễm bệnh khi sinh từ mẹ nhiễm COVID-19 trong 14 ngày trước sinh hay 28 ngày sau sinh.Chẩn đoán xác định khi xét nghiệm PCR dịch hô hấp SARS-CoV-2 dương tính. Điều trị COVID-19trẻ em, chủ yếu là cách ly dự phòng lây truyền sang người khác, điều trị hỗ trợ là chính. Điều trịđặc hiệu phải được cân nhắc, dựa vào tình trạng nặng của bệnh, tuổi, và các yếu tố nguy cơ.



2021 ◽  
Vol 14 (2) ◽  
Author(s):  
Nguyễn Thị Quỳnh Nga

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của viêm màng não nhiễm khuẩn (VMNNK) ở trẻ sơ sinh. Đối tượng nghiên cứu: 133 trẻ sơ sinh được chẩn đoán và điều trị VMNNK tại khoa Hồi sức Sơ sinh Bệnh viện Nhi Trung ương từ 01/07/2019 đến 30/06/2020. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu. Kết quả: Trong số 133 bệnh nhân, 32 trẻ sơ sinh đượcchẩn đoán VMNNK sớm chiếm tỷ lệ 24%. Trẻ đẻ non mắc VMNNK sớm nhiều hơn trẻ đủ tháng. Các triệu chứng lâm sàng bao gồm: thay đổi nhệt độ (63,1%), vàng da (53,3%) hay gặp ở trẻ đủ tháng; suy hô hấp (60,2%), thay đổi nhịp tim (60,2%), bú kém (95,5%), bỏ bú (61,7%), li bì (42,8%) hay gặp ở trẻ non tháng. Giá trị CRP tăng với trung vị là 31,4(81,6) mg/l. Đặc điểm dịchnão tủy với số lượng tế bào có trung vị là 78 (49-415) tế bào/mm3 , protein là 1,37 (0,97-2,27) g/l, glucose là 2,55 (1,75-3,18) mmol/l. 6/133 (4,5%). Bệnh nhân có kết quả cấy dịch não tủy dương tính. Kết luận: Triệu chứng lâm sàng của VMNNK sơ sinh thường không đặc hiệu và giống bệnh cảnh nhiễm khuẩn huyết. Trẻ sơ sinh có biểu hiện nhiễm trùng cần được nghĩ tới nguyên nhân VMNNK và nên được chọc DNT sớm. Kết quả nuôi cấy DNT đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán bệnh nhưng tỷ lệ dương tính còn thấp.



2021 ◽  
Vol 14 (2) ◽  
Author(s):  
Phạm Văn Thắng ◽  
Nguyễn Tiến Mạnh

Nhiễm toan chuyển hóa được định nghĩa là một quá trình bệnh lý, làm tăng nồng độ của các ion hydro trong cơ thể và làm giảm nồng độ HCO3 -. Toan chuyển hóa được chẩn đoán khi pH động mạch thấp (<7,35), HCO3- thấp (<18mmol/l), pCO2thấp (<35 mmHg) và BE giảm. Kèm theo có /hoặc không các triệu chứng lâm sàng như thở nhanh sâu, nhịp thở Kussmaul, rối loạn thần kinh bao gồm nhức đầu, buồn nôn, lơ mơ, hôn mê và cuối cùng là trụy mạch [5,6]. Theo A. Durward và CS có đến 46% số trẻ em nhập khoa ICU bị toan chuyển hóa [1]. Một nghiên cứu khác của NaPa và CS thì số trẻ em bị toan chuyển hóa là 27% [1]. Theo Phí Đức Long và P.V.Thắng, tỷ lệ nhiễm toan chuyển hóa chiếm 51% tổng số trẻ nhiễm toan tại PICU [3]. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến toan chuyển hóa với các biểu hiện lâm sàng khác nhau. Nhiễm toan nặng có thể gây nhiều biến chứng và dẫn đến tử vong nhanh chóng. Toan chuyển hóa ảnh hưởng lên rất nhiều cơ quan trong đó tim mạch là hệ cơ quan bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Sức co bóp cơ tim và thể tích nhát bóp giảm, các chất giãn mạch được giải phóng gây hạ huyết áp. Sựsuy giảm chức năng cơ tim xảy ra phụ thuộc vào pH. Khi pH giảm từ 7,4 xuống 7,2 thể tích nhát bóp có thể tăng do các catecholamine được giải phóng, nhưng khi pH giảm xuống dưới 7,2 thì sự suy giảm thể tích nhát bóp chắc chắn sẽ xảyra. Ngoài ra sự kháng các thuốc vận mạch cũng như các rối loạn nhịp thất cũng được ghi nhận ở những bệnh nhân toan chuyển hóa nặng [16]. Sự suy giảm ý thức, hôn mê cũng thấy ở những bệnh nhân toan chuyển hóa nặng mặc dù pH dịch não tủy chỉ thay đổi nhỏ. Toan chuyển hóa còn làm ảnh hưởng đến ái lực của gắn của oxy vào phân tử hemoglobin. Thời gian toan càng kéo dài, ái lực gắn càng giảm. Ngoài ra, trong toan chuyển hóa cấp tính, hoạt động của các tế bào lympho cũng như khả năng diệt khuẩn của bạch cầu bị suy giảm dẫn tới bệnh nhân dễ bị nhiễm trùng hơn. Ở những bệnh nhân này, toan chuyển hóa còn gây ra giảm hoạt động sản xuất ATP do ức chế 6-phosphofructokinase và thúc đẩy sự chết theo chương trình của tế bào [16]. Do những tác động xấu lên cơ thể nên những bệnh nhân toan chuyển hóa nếu không được điều trị kịp thời sẽ có tiên lượng rất xấu. Tiênlượng càng xấu khi mức độ toan càng nặng.



2021 ◽  
Vol 14 (2) ◽  
Author(s):  
Phạm Văn Thắng ◽  
Ma Văn Thấm
Keyword(s):  

Suy tim cấp (STC) là tình trạng cơ tim mất đột ngột khả năng cung cấp lưu lượng máu nên không đáp ứng được các nhu cầu chuyển hóa của cơ thể. Nguyên nhân STC đa dạng và thay đổi theo lứa tuổi, triệu chứng thường không điển hình, vì vậy khi vào cấp cứu thường ở giai đoạn nặng, tỷ lệ tử vong cao. Mục tiêu: mô tả triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và nguyên nhân STCở trẻ em. Đối tượng nghiên cứu: gồm 70 bệnh nhân được chẩn đoán STC tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Thời gian: 1/8/2017 - 31/8/2018. Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang. Kết quả: Nhóm tuổi STC gặp nhiều nhất < 12 tháng tuổi (67,2%), tỷ lệ nam/nữ là 1.2 : 1. Nguyên nhân hàng đầu gây STC là nhóm các bệnh lý về cơ tim (80%). Triệu chứng khởi phát STC chủ yếu làkhó thở chiếm tỷ lệ 82,9%, tím tái 52,9%, tiếp theo là vật vã kích thích chiếm tỷ lệ trên 30%, ho, khò khè 20%, nôn 12,86%, hôn mê 7,14%, đau bụng và tiêu chảy 8,57%, sốt. Bệnh nhân STC vào khoa cấp cứu Hồi sức với biểu hiện nhịp tim nhanh 98,6%, CVP tăng 90%, diện tim to và gan to 80%, nhịp ba, nhịp ngựa phi 64,3%. Cận lâm sàng Pro BNP tăng (100%), trung bình 5597±2258 pg/ml, Troponin I tăng (90%), trung bình 8,25±2,99 ug/l, Xquang tim to chỉ số tim ngực tăng (84,1%), siêu âm tim phân suất tống máu EF giảm < 50% (68,1%). Kết luận: STC gặp chủ yếu trẻ <12 tháng tuổi, nguyên nhân hàng đầu là nhóm bệnh lý cơ tim, triệu chứng lâm sàng đa dạng, tình trạng nặng nhập viện là suy hô hấp, suy tim nặng.



2021 ◽  
Vol 14 (2) ◽  
Author(s):  
Đỗ Văn Niệm ◽  
Lê Thị Châu ◽  
Lê Thị Thu Thúy

Giới thiệu: Chỉ số là phương pháp đo lường chất lượng cơ bản và hình thức báo cáo phù hợp sẽ cung cấp thêm thông tin để nhà quản trị ra quyết định. Phương pháp: Chuẩn hóa dữ liệu giám sát quá trình và đo lường kết quả hiện có thành dữ liệu mảng. Sử dụng kết quả này để phát triển bảng điều khiển kết hợp bằng ngôn ngữ R (gói phân tích: flexdashboard, knitr, tidyverse, readxl,reshape2, lubridate, qicharts2, qcc, ggQC, gridExtra, plotly, DT), với định dạng .html nhằm dễ phổ biến. Người dùng được hỏi ý kiến để hoàn thiện thiết kế nhằm đảm bảo sự tiện lợi, đủ thông tin cần thiết, khả năng truy vết nguồn gốc vấn đề và dễ tìm kiếm thông tin. Kết quả: Bảng điều khiển chỉ số gồm: tóm tắt chỉ số tuần và trung bình năm hiện hành, biểu đồ kiểm soát từngnhóm chỉ số theo tuần so sánh với năm liền kề trước, biểu đồ Pareto chỉ rõ nội dung ít tuân thủ hoặc nhóm sự kiện bất lợi chiếm đa số, phân tích chỉ số theo khoa và quy trình bằng biểu đồ lưới để đối sánh. Bảng dữ liệu tổng hợp về tỷ lệ tuân thủ theo khoa và quy trình mỗi tuần, kết hợp chức năng tìm kiếm giúp người dùng truy cập nhanh thông tin. Khảo sát ý kiến người dùng 2 lần trong tiến trình phát triển có kết quả đánh giá phù hợp và dễ hiểu trên 75%. Kết luận: Bảng điều khiển chỉ số không những giúp nhà quản trị bệnh viện dễ thấy bức tranh toàn cảnh về chất lượng, mà còn cung cấp đủ thông tin chi tiết để mỗi khoa, phòng thực hiện cải tiến.



2021 ◽  
Vol 14 (2) ◽  
Author(s):  
Nguyễn Thị Lam Hồng ◽  
Vương Thị Huyền Trang ◽  
Vũ Thị Tâm

Nôn là một triệu chứng tiêu hóa phổ biến của trẻ sơ sinh có thể gặp trong nhiều bệnh lý liên quan đến nhiều cơ quan khác nhau. Nôn được định nghĩa là tình trạng các chất trong dạ dày bị đẩy ra ngoài qua miệng, do sự co bóp của dạ dày phối hợp với co thắt của các cơ thành bụng và ngực. Trớ là sự di chuyển của chất trào ngược từ dạ dày qua hầu họng lên miệng, hoặc có thể qua miệng ra ngoài số lượng ít, do sự co bóp đơn thuần của dạ dày. Trớ là một triệu chứng rất hay gặp ở trẻ sơ sinh, so với nôn, trớ thường không mạnh, số lượng dịch thường nhỏ < 5 - 10 ml, thường xuất hiện sau ăn, khi trẻ ợ hơi. Nguyên nhân thường do ăn nhanh hoặc ăn quá mức và nuốt nhiều khí và chỉ cần vỗ nhẹ lên lưng trẻ là có thể giúp giải quyết vấn đề này.



Sign in / Sign up

Export Citation Format

Share Document