Gender Equality and Economic Growth in the World Bank World Development Report 2006

2009 ◽  
Vol 15 (3) ◽  
pp. 35-59 ◽  
Author(s):  
Diane Elson
Author(s):  
Nguyen Manh Hung

Trong khoảng 10 - 15 năm gần đây, ở Việt Nam đã nổi lên luận điểm rằng: cải cách thể chế kinh tế ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong tiến trình đổi mới. Khi các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, lao động giá rẻ và vốn...đã đến giới hạn thì cải cách thể chế trở thành đòi hỏi tất yếu đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, đây cũng là thử thách khó khăn của quá trình phát triển. Trên thế giới, nhiều quốc gia chỉ đạt được một phần mục tiêu của cải cách, thậm chí ở một số quốc gia nỗ lực cải cách thể chế lại đẩy nền kinh tế vào những bất ổn không ngừng.  Tiến trình cải cách thể chế kinh tế sẽ khó thể thành công nếu không đi kèm với nỗ lực thiết lập một nền tảng quản trị quốc gia vững mạnh. Từ khóa Quản trị, thể chế, kinh tế thị trường, cải cách References [1] Acemoglu, Daron and James Robinson (2012). Why Nations Fail: The Origins of Power, Prosperity, and Poverty. Random House[2] Acemoglu, Daron, Simon Johnson and James A. Robinson (2001), “The Colonial Origins of Comparative Development: An Empirical Investigation” The American Economic Review Vol. 91, No. 5 (Dec., 2001)[3] Acemoglu, Daron, Simon Johnson and James Robinson (2005). “Institutions as Fundamental Cause of Long run Growth”, Handbook ofEconomic Growth, Volume IA. Edited by Philippe Aghion and Steven N. Durlauf. 2005 Elsevier B.V[4] Asian Development Bank (1995). Governance: Sound Development Management, October 1995;[5] Diễn đàn kinh tế tư nhân Việt Nam 2016: Cơ hội, thách thức và giải pháp. Hà nội,[6] Heritage Foundation (2017). 2017 Index of Economic Freedom,[7] [http://www.heritage.org/index/ranking][8] International Development Association (1998). Additions to IDA Resources: Twelfth Replenishment (IDA12). 23 December 1998; [9] Kasper, Wolfgang and Manfred E Streit (1999). Institutional Economics: Social Order and Public Policy, Edward Elgar. Tr. 41[10] Kaufmann, Daniel; Aart Kraay, Massimo Mastruzzi (2010), The Worldwide Governance Indicators Methodology and Analytical Issues, the World Bank Policy Research Working Paper 5430, September 2010[11] Nguyễn Quang Thuấn (2017). “Cải thiện nền quản trị quốc gia, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới”, tham luận tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2017: Phát huy nội lực, tăng trưởng bền vững, Ban kinh tế trung ương ngày 27/06/2017[12] North, D.C. (1990), Institutions, Institutional Change and Economic Performance, Cambridge and New York: Cambridge University Press.[13] Osborne, S. P. (2006), “The New Public Governance?” Public Management Review, vol. 8, No. 3, pp. 377-388.[14] UNDP (1997). “Governance for Sustainable Human Development” New York; WB (1994). Governance: The World Bank’s Experience. Washington DC; [15] VCCI & USAID (2015). Báo cáo năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2015. Hà Nội: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ [16] Wolfensohn, James D. (1999), Address to the Board of Governors (September 28, 1999), the World Bank[17] WB (1992). World Development Report: Governance and Development, Washington DC. [18] WB (1989). Sub-Saharan Africa: From Crisis to Sustainable Growth, Washington DC[19] WB (2016). Ease of Doing Business 2016. Washington DC [20] http://www.doingbusiness.org/data/exploreeconomies/vietnam[21] WB (1997). World Development Report 1997. Washington DC. [22] WB (2017). Worldwide Governance Indicator, [23] http://info.worldbank.org/governance/wgi/index.aspx#reports[24] World Economic Forum (2016). Global Competitiveness Report 2016-2017, Geneva.


2007 ◽  
Vol 2 (3) ◽  
pp. 230-241 ◽  
Author(s):  
Mikaela Luttrell-Rowland

This article examines the World Bank's recent World Development Report on youth and development (2007) as an empirical example to explore the links between the employment of ‘group identity’ and the use of policy frameworks. Drawing on feminist theory to analyse the representations of young people put forward within the report, this article demonstrates how the report privileges economic indicators, elevates formal institutions, and obfuscates structural inequality and power. The article argues that the report's failure to indicate the partiality of its perspective on youth and development problematically narrows the policy options the World Bank is able to present.


Sign in / Sign up

Export Citation Format

Share Document