Tyrosine Kinase
Recently Published Documents


TOTAL DOCUMENTS

26626
(FIVE YEARS 8704)

H-INDEX

290
(FIVE YEARS 62)

Author(s):  
Joseph Farahany ◽  
Yoshikazu Tsukasaki ◽  
Amitabha Mukhopadhyay ◽  
Manish Mittal ◽  
Saroj Nepal ◽  
...  

2021 ◽  
Vol 11 (1) ◽  
Author(s):  
Ewa Monika Drzewiecka ◽  
Wiktoria Kozlowska ◽  
Agata Zmijewska ◽  
Anita Franczak

AbstractThis study hypothesized that female peri-conceptional undernutrition evokes transcriptomic alterations in the pig myometrium during the peri-implantation period. Myometrium was collected on days 15–16 of pregnancy from pigs fed a normal- (n = 4) or restricted-diet (n = 4) from conception until day 9th of pregnancy, and the transcriptomic profiles of the tissue were compared using Porcine (V2) Expression Microarrays 4 × 44 K. In restricted diet-fed pigs, 1021 differentially expressed genes (DEGs) with fold change ≥ 1.5, P ≤ 0.05 were revealed, and 708 of them were up-regulated. Based on the count score, the top within GOs was GO cellular components “extracellular exosome”, and the top KEGG pathway was the metabolic pathway. Ten selected DEGs, i.e. hydroxysteroid (17β) dehydrogenase 8, cyclooxygenase 2, prostaglandin F receptor, progesterone receptor membrane component 1, progesterone receptor membrane component 2, annexin A2, homeobox A10, S-phase cyclin A-associated protein in the ER, SRC proto-oncogene, non-receptor tyrosine kinase, and proliferating cell nuclear antigen were conducted through qPCR to validate microarray data. In conclusion, dietary restriction during the peri-conceptional period causes alterations in the expression of genes encoding proteins involved i.a. in the endocrine activity of the myometrium, embryo-maternal interactions, and mechanisms regulating cell cycle and proliferation.


2021 ◽  
Vol 11 ◽  
Author(s):  
Alan C. Rapraeger

Receptor tyrosine kinases (RTKs) and integrin matrix receptors have well-established roles in tumor cell proliferation, invasion and survival, often functioning in a coordinated fashion at sites of cell-matrix adhesion. Central to this coordination are syndecans, another class of matrix receptor, that organize RTKs and integrins into functional units, relying on docking motifs in the syndecan extracellular domains to capture and localize RTKs (e.g., EGFR, IGF-1R, VEGFR2, HER2) and integrins (e.g., αvβ3, αvβ5, α4β1, α3β1, α6β4) to sites of adhesion. Peptide mimetics of the docking motifs in the syndecans, called “synstatins”, prevent assembly of these receptor complexes, block their signaling activities and are highly effective against tumor cell invasion and survival and angiogenesis. This review describes our current understanding of these four syndecan-coupled mechanisms and their inhibitory synstatins (SSTNIGF1R, SSTNVEGFR2, SSTNVLA-4, SSTNEGFR and SSTNHER2).


Author(s):  
Craig A Portell ◽  
Nolan A Wages ◽  
Brad S. Kahl ◽  
Lihua E Budde ◽  
Robert W Chen ◽  
...  

Relapsed Mantle cell lymphoma (MCL) is often treated with Bruton's Tyrosine Kinase inhibitors (BTKi); however, post-BTKi relapse can be challenging. Adding venetoclax (VEN) to ibrutinib(IBR) has shown synergy in pre-clinical MCL models. Prior MCL studies of the combination report promising efficacy but have conducted limited dose finding. We sought to identify the optimal dosing combination, based on efficacy and toxicity, utilizing a continual re-assessment method of 6 combinations of IBR (280mg, 420 mg, and 560mg PO daily) and VEN (max dose of 200mg and 400mg PO daily). Eligible participants were not previously exposed to BTKi's and not high risk for Tumor Lysis Syndrome (TLS). VEN, initiated first at 100mg, then at 20mg PO daily after a TLS event, was started prior to adding IBR and ramped-up based on the dose level. Combination treatment continued for six 28 day cycles. 35 participants were enrolled and treated. One TLS event occurred with starting dose of 100mg VEN; no TLS was seen with 20mg. The optimal dosing combination was considered to be VEN 200mg and IBR 420mg with an ORR of 93.8% (95% CI: 73.6-99.7%) and DLT incidence of 6.2% (95% CI: 0.3-26.4%). Overall response for all arms was 82.3% (28/34; 95% CI: 65.5-93.2%) with a CR rate of 42.4% (14/33; 95% CI: 25.5-60.8%). A participant was not allocated to IBR 560mg and VEN 400mg. ORR benefit was not seen with higher dosing combinations and toxicity was higer; a comparison made within the limitations of small cohorts. Resistance was seen in nearly all arms. This trial was registered at www.clinicaltrials.gov #NCT02419560.


2021 ◽  
Vol 506 (2) ◽  
Author(s):  
Nguyễn Văn Kiên ◽  
Phạm Cẩm Phương
Keyword(s):  

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ di căn não có đột biến EGFR tại Bệnh viện Bạch Mai. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả, cắt ngang trên 53 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi không tế bào nhỏ di căn não có đột biến gen EGFR được điều trị thuốc ức chế tyrosine kinase kết hợp xạ phẫu dao gamma quay tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai thời gian từ 01/2016 đến 12/2020. Kết quả: 50,9% nam, tỷ lệ nam/nữ: 1,04/1, chủ yếu ở độ tuổi 50-69 (73,6%). 43,4% bệnh nhân hút thuốc lá, chỉ gặp ở nam giới. Triệu chứng hay gặp là triệu chứng hô hấp 54,7%, tiếp đến là chứng thần kinh 39,6%. Đa số bệnh nhân có chỉ số toàn trạng PS ECOG từ 0-1 (81,1%). Giai đoạn T1-2 gặp 64,2%, di căn hạch 58,5%, di căn não thường kết hợp di căn vị trí khác (64,2%) trong đó hay gặp nhất là di căn xương 49,1%, tiếp đến là di căn phổi, màng phổi 28,3%, tuyến thượng thận 5,7%, gan 3,7%. Đặc diểm u di căn não: Di căn 1 ổ gặp 47%, vị trí hay di căn là bán cầu đại não (79,2%), kích thước từ 1-20mm chiếm tỷ lệ cao nhất (69,9%), kích thước nhỏ 1-10mm chiếm 20,1%. Tỷ lệ bệnh nhân có đột biến Del19 chiếm đa số (67,9%), Del 19/L858R= 2,77/1. So với đột biến exon 21, đột biến Del 19 gặp nhiều ở nhóm nữ hơn (63,9%) sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p= 0,005. Đa số bệnh nhân có nồng độ CEA, cyfra 21-1 đều cao hơn ngưỡng bình thường (81,8% và 70,3%). Di căn xương có mối liên hệ chặt chẽ với tình trạng tăng CEA bất thường với p=0,047. Kết luận: Bệnh nhân ung thư phổi di căn não có đột biến EGFR có tỷ lệ nam/ nữ cân bằng, đột biến Del 19 chiếm đa số, gặp nhiều ở nữ. CEA có độ nhạy cao trong dự báo tình trạng di căn toàn thân, đặc biệt là di căn xương.


2021 ◽  
Vol 506 (2) ◽  
Author(s):  
Nguyễn Văn Kiên ◽  
Phạm Cẩm Phương ◽  
Nguyễn Thị Phương Thảo
Keyword(s):  

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và độc tính của phác đồ kết hợp thuốc ức chế tyrosine kinase và xạ phẫu dao gamma quay điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ di căn não có đột biến EGFR tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 53 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến gen EGFR, được điều trị bằng thuốc ức chế tyrosine kinase (TKI) kết hợp xạ phẫu dao gamma quay tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai từ 01/2016 đến 12/2020. Kết quả: 50,9% nam, tỷ lệ nam/nữ: 1,04/1, chủ yếu ở độ tuổi 50-69 (73,6%). Thể trạng theo ECOG từ 0-2, chủ yếu là 0-1 (81,1%). Di căn não thường kết hợp di căn các cơ quan khác (64,2%), nhiều nhất là di căn xương (49,1%), di căn phổi, màng phổi (28,3%). Các thuốc TKI được sử dụng: Erlotinib (47,2%), Gefitinib (43,4%), Afatinib (9,4%). Triệu chứng cơ năng cải thiện ở 88,7% bệnh nhân. Tỷ lệ đáp ứng khách quan đạt 69,0%, chủ yếu là đáp ứng một phần (66,7%), không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các thuốc TKI với p >0,05. Thời gian sống thêm được tính theo phương pháp Kaplan-Meyer. Thời gian sống thêm bệnh không tiến triển đạt trung vị 14,0 tháng (khoảng tin cậy 95%: 11,6-16,4 tháng). Đáp ứng khách quan sau 3 tháng là yếu tố tiên lượng thời gian sống thêm bệnh không tiến triển với p<0,01. Trung vị thời gian sống thêm bệnh không tiến triển tại não đạt 22,0 tháng (khoảng tin cậy 95%: 18,2-25,8 tháng). Điều trị toàn thân bằng Erlotinib cho thời gian sống thêm bệnh không tiến triển tại não dài hơn Gefitinib và Afatinib khi phân tích đa biến với p < 0,05. Trung vị thời gian sống thêm toàn bộ đạt 25,0 tháng (khoảng tin cậy 95%: 11,0-39,0 tháng), tỷ lệ sống 1 năm đạt 85,7%, 2 năm đạt 52,0%. Phân tích đa biến, điều trị toàn thân bước 2 bằng thuốc TKI bước 2 cho trung vị thời gian sống thêm toàn bộ dài hơn hóa chất và không điều trị lần lượt là 39 tháng, 20 tháng, 14 tháng, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Tác dụng phụ hay gặp của phác đồ là ban da (52,8%), tiêu chảy (16,9%), tăng men gan (11,3%), đều mức độ nhẹ đến vừa. Không có biến chứng giãn não thất, hoại tử mô não lành sau xạ phẫu. Tiêu chảy gặp nhiều ở nhóm điều trị bằng Afatinib hơn Erlotinib và Gefitinib, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Đa số bệnh nhân tuân thủ phác đồ, độc tính mức độ vừa làm 2 bệnh nhân phải tạm dừng thời gian ngắn, 2 bệnh nhân giảm liều. Kết luận: Điều trị bệnh nhân ung thư phổi di căn não có đột biến EGFR bằng thuốc ức chế tyrosine kinase kết hợp xạ phẫu dao gamma quay là phương pháp hiệu quả và an toàn.


Genes ◽  
2021 ◽  
Vol 12 (11) ◽  
pp. 1686
Author(s):  
Chaido Sirinian ◽  
Anastasios D. Papanastasiou ◽  
Soren E. Degn ◽  
Theodora Frantzi ◽  
Christos Aronis ◽  
...  

Background: We have previously shown that overexpression of RANK-c in ER-negative breast cancer cell lines attenuates aggressive properties of cancer cells, partially through a RANK-c /EGFR interaction. EGFR inhibition through TKIs in breast cancer has been tested in triple-negative disease settings with limited clinical benefit for patients. Here we test if expression of RANK-c in ER-negative breast cancer cells in conjunction with treatment with TK inhibitors (erlotinib or gefitinib) can affect survival and colony-forming capacity of cancer cells. Methods: Stably expressing MDA-MB-231-RANK-c and SKBR3-RANK-c cells were employed to test proliferation and colony formation in the presence of TKIs. In addition, Western blot analysis was performed to dissect EGFR related signaling cascades upon TK inhibition in the presence of RANK-c. Results: Interestingly the two RANK-c expressing, ER-negative cells lines presented with a distinct phenotype concerning TKI sensitivity upon treatment. MDA-MB-231-RANK-c cells had a higher sensitivity upon gefitinib treatment, while erlotinib decreased the proliferation rate of SKBR3-RANK-c cells. Further, colony formation assays for MDA-MB-231-RANK-c cells showed a decrease in the number and size of colonies developed in the presence of erlotinib. In addition, RANK-c seems to alter signaling through EGFR after TKI treatment in a cell type-specific manner. Conclusions: Our results indicate that ER-negative breast cancer cells that express RANK-c alter their sensitivity profile against tyrosine kinase inhibitors (erlotinib and gefitinib) in a cell type-specific and culture substrate-dependent manner.


Sign in / Sign up

Export Citation Format

Share Document